Tiêu chuẩn dầu nhớt

[tintuc]

Cấp độ nhớt SAE của dầu nhớt được xác định bởi Hiệp hội Kỹ sư Ô tô Hoa Kỳ (SAE). Dầu nhớt có thể được tách thành dầu đa cấp và dầu đơn cấp. Dầu đa cấp phải đáp ứng hai thông số kỹ thuật về độ nhớt, cấp độ nhớt của chúng bao gồm hai con số, ví dụ: 10W40: 10W đề cập đến độ nhớt nhiệt độ thấp (Mùa đông), 40 đề cập đến độ nhớt nhiệt độ cao (Mùa hè). Hiện tại, hầu hết các loại dầu động cơ ô tô là dầu đa cấp, trong khi các loại dầu đơn cấp được sử dụng hạn chế, ví dụ như cho các động cơ sử dụng theo mùa như máy cắt cỏ, thường là dầu đơn cấp. Trong khi hai con số chỉ định cấp độ nhớt SAE, chỉ số độ nhớt cho thấy sự thay đổi liên quan đến nhiệt độ của độ nhớt.

{tocify} $title = {Mục lục}

Bài viết sau đay cung cấp tổng quan về các thông số kỹ thuật của dầu nhớt, xem thêm dữ liệu đo lường của dầu động cơ và dầu hộp số trong một phạm vi nhiệt độ rộng theo tiêu chuẩn SAE J 300J 306.

Cấp độ nhớt SAE của dầu động cơ - Tiêu chuẩn SAE J300, tháng 12 năm 1999

Biểu đồ nhiệt độ độ nhót
Biểu đồ nhiệt độ độ nhót

Hệ thống phân loại độ nhớt của Hiệp hội Kỹ sư Ô tô (SAE) dành cho dầu động cơ bao gồm các cấp “W” xác định độ nhớt ở nhiệt độ thấp và các cấp đặt ra các giới hạn hơn nữa đối với độ nhớt ở nhiệt độ cao của một số loại dầu động cơ phổ biến.

Tiêu chuẩn cấp độ nhớt SAE J300
Độ nhớt SAE Độ nhớt ở nhiệt độ thấp Độ nhớt khi bơm Độ nhớt ở nhiệt độ cao Độ nhớt ở nhiệt độ cắt cao
(mPa/s)     (mPa/s) (mm2/s)     (mPa/s)
Độ nhớt tối đa tại [ °C ]     Độ nhớt tối đa tại [ °C ] Độ nhớt ở 100°C Độ nhớt ở 150°C
min max min
0W 6200  tại -35 60000 tại -40 3.8 - -
5W 6600   tại -30 60000 tại -35 3.8 - -
10W 7000   tại -25 60000 tại -30 4.1 - -
15W 7001   tại -20 60000 tại -25 5.6 - -
20W 9500    tại -15 60000 tại -20 5.6 - -
25W 13.000   tại-10 60000 tại -15 9.3 - -
20 - - 5.6 <9.3 2.6
30 - - 9.3 <12.5 2.9
40 - - 12.5 <16.3 2.9
50 - - 16.3 <21.9 3.7
60 - - 21.9 <26.1 3.7

Độ nhớt ở nhiệt độ cao:

- Độ nhớt động học ở 40°C và 100°C - độ nhớt cắt thấp - được xác định theo ASTM D445, trong đó phương pháp thay thế theo ASTM D7042 mang lại kết quả tương đương.

- Độ nhớt cắt cao (10/s) ở nhiệt độ cao 150 ° C - Độ nhớt HSHT - được xác định theo tiêu chuẩn ASTM D4683, CEC L-36-A-90 (ASTM D 4741) hoặc ASTM DS481.

Độ nhớt ở nhiệt độ thấp:

- Nhiệt độ xác định tùy thuộc vào cấp độ nhớt của dầu - được xác định theo tiêu chuẩn ASTM D5293 (bộ mô phỏng quây lạnh). Quy trình mô phỏng quá trình khởi động nguội của động cơ đốt trong.

- Nhiệt độ bơm đường viền tối đa. 60 000 mPa.s ở nhiệt độ xác định tùy thuộc vào cấp độ nhớt của dầu theo SAE J300. Xác định độ nhớt biểu kiến ​​và ứng suất chảy theo tiêu chuẩn ASTM D4684, ASTM D3829, ASTM D6821 hoặc ASTM D6896 (nhớt kế quay mini).

Xem ngay:

- Dầu nhớt đa cấp là gì - khác với dầu đơn cấp như thế nào?

- Cách tính chỉ số độ nhớt (VI) cho dầu nhờn

- Dầu động cơ là gì? Sự khác nhau giữa dầu động cơ xăng và Diesel

SAE International tên mới của Hiệp Hội Kỹ  Sư Ô Tô Hoa Kỳ

- ILSAC có phải là tiêu chuẩn dầu nhớt động cơ?

Cấp độ nhớt SAE cho dầu dầu bánh răng - Tiêu chuẩn SAE J306, 1998


Hiệp hội Kỹ sư Ô tô (SAE) cũng đã phát minh ra một phương pháp để phân loại các đặc tính độ nhớt của chất bôi trơn bánh răng. Không nên nhầm lẫn cấp độ nhớt của dầu bôi trơn bánh răng với cấp độ nhớt của dầu động cơ. Dầu bôi trơn bánh răng và dầu động cơ có cùng độ nhớt sẽ có các ký hiệu cấp độ nhớt SAE khác nhau rộng rãi như được định nghĩa trong hai phân loại độ nhớt. Ví dụ, chất bôi trơn bánh răng SAE 80W có thể có cùng độ nhớt với dầu động cơ SAE 20W hoặc SAE 30 và độ nhớt của chất bôi trơn bánh răng SAE 90 có thể tương tự với độ nhớt của dầu động cơ SAE 40 hoặc SAE 50. Sau đây là bảng với các cấp độ nhớt của chất bôi trơn bánh răng SAE:

- Phân loại độ nhớt của dầu bôi trơn trục và hộp số bằng tay

- SAE J306 OCT 91

Tiêu chuẩn cấp độ nhớt SAE J300
Độ nhớt SAE Độ nhớt ở nhiệt độ thấp Độ nhớt khi bơm Độ nhớt ở nhiệt độ cao Độ nhớt ở nhiệt độ cắt cao
(mPa/s)     (mPa/s) (mm2/s)     (mPa/s)
Độ nhớt tối đa tại [ °C ]     Độ nhớt tối đa tại [ °C ] Độ nhớt ở 100°C Độ   nhớt ở 150°C
min max min
0W 6200   tại -35 60000 tại -40 3.8 - -
5W 6600   tại -30 60000 tại -35 3.8 - -
10W 7000   tại -25 60000 tại -30 4.1 - -
15W 7001   tại -20 60000 tại -25 5.6 - -
20W 9500   tại -15 60000 tại -20 5.6 - -
25W 13.000  tại -10 60000 tại -15 9.3 - -
20 - - 5.6 <9.3 2.6
30 - - 9.3 <12.5 2.9
40 - - 12.5 <16.3 2.9
50 - - 16.3 <21.9 3.7
60 - - 21.9 <26.1 3.7


Nguồn: www.wiki.anton-paar.com

[/tintuc]

Cấp độ nhớt ISO
Cấp độ nhớt ISO

[tintuc]

Qua nhiều năm, người sử dụng chất bôi trơn đã được đối xử với một số cách để chỉ định cấp độ nhớt của chất bôi trơn được sử dụng trong sản xuất. Có các cấp SAE (Hiệp hội Kỹ sư Ô tô Hoa Kỳ) cho dầu hộp số và dầu động cơ, AGMA (Hiệp hội các nhà sản xuất bánh răng Hoa Kỳ) cho dầu bánh răng, SUS (Saybolt Universal Seconds), cSt (độ nhớt động học tính bằng centistokes) và độ nhớt tuyệt đối.

Để thêm vào sự nhầm lẫn, hai phép đo nhiệt độ (Fahrenheit và C) có thể được áp dụng cho hầu hết các phương pháp này, chưa kể đến độ nhớt có thể được trình bày ở 40°C (104°F) hoặc 100°C (212°F).

{tocify} $title = {Mục lục}

Mặc dù tất cả những điều này đều phục vụ cho các mục đích hữu ích ở mức độ này hay mức độ khác, nhưng hầu hết những người kinh doanh chất bôi trơn đều ổn định và sử dụng một phương pháp làm cơ sở để lựa chọn sản phẩm bôi trơn. Đối với người mới tham gia vào lĩnh vực chất bôi trơn, số lượng các tùy chọn có thể gây nhầm lẫn, đặc biệt nếu nhà cung cấp chất bôi trơn chính không liên kết một trong các hệ thống độ nhớt nổi bật với nhãn sản phẩm.

Để phức tạp hóa vấn đề, các nhà thiết kế máy móc phải xác định độ nhớt của chất bôi trơn theo cách mà người sử dụng thiết bị hiểu rõ ràng những gì cần thiết mà không cần phải tham khảo ý kiến ​​tư vấn từ bên ngoài.

Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một ký hiệu độ nhớt được chấp nhận rộng rãi - một ký hiệu độ nhớt có thể được sử dụng bởi các chuyên gia bôi trơn, nhà cung cấp chất bôi trơn và kỹ sư thiết kế máy móc đồng thời với sự nhầm lẫn tối thiểu.

Năm 1975, Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO), cùng với Hiệp hội Thử nghiệm và Vật liệu Hoa Kỳ (ASTM), Hiệp hội Kỹ sư Bôi trơn và Truy xuất (STLE), Viện Tiêu chuẩn Anh (BSI) và Viện Tiêu chuẩn Đức (DIN) đã dàn xếp dựa trên một cách tiếp cận để giảm thiểu sự nhầm lẫn. Nó được gọi là Cấp độ nhớt của Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế, viết tắt là ISO VG.

Bạn không cần phải nghe nhiều về lĩnh vực này trước khi ai đó nói rằng độ nhớt là đặc tính vật lý quan trọng nhất của chất lỏng khi xác định yêu cầu bôi trơn. Ở bài viết “ Phân loại dầu thủy lực theo tiêu chuẩn ISO VG ” hôm nay chúng ta sẽ cũng tìm hiểu sâu hơn về “ Cấp độ nhớt ISO ” mời các bạn xem tiếp bài viết.

Độ nhớt là gì?


Độ nhớt là thước đo khả năng chống chảy của dầu nhớt trong những điều kiện nhất định. Để đơn giản hóa, độ nhớt của dầu nhớt thể hiện thước đo mà dầu muốn giữ nguyên khi bị đẩy bằng cách chuyển động các thành phần cơ học.

Hãy nghĩ về một vận động viên trượt nước cắt qua mặt nước. Nước có độ nhớt được đo bằng centistokes là 1. Đó là ở dưới cùng của thang đo cSt. Chúng ta có thể thấy lượng nước mà một vận động viên trượt tuyết chuyên nghiệp đổ đi khi anh ta chạy qua một khóa học trượt tuyết.

Nếu người trượt tuyết đang trượt tuyết trên hồ dầu bánh răng SAE 90/ISO 220 và tất cả các điều kiện khác hoàn toàn giống nhau, thì lượng phun tạo ra sẽ ít hơn đáng kể vì chất lỏng sẽ chống lại lực của người trượt tuyết rất nhiều mức độ lớn hơn.

Có hai quan điểm về khả năng chống dòng chảy mà nhà thiết kế máy quan tâm. Một là thước đo cách chất lỏng hoạt động dưới áp suất, chẳng hạn như đường thủy lực có điều áp. Tính chất này được gọi là độ nhớt tuyệt đối (còn được gọi là độ nhớt động lực học) và được đo bằng centipoises (cP).

Sự cân nhắc khác là chất lỏng hoạt động như thế nào chỉ dưới tác dụng của lực hấp dẫn. Đây được gọi là centistokes, mà chúng tôi đã lưu ý. Cả hai có liên quan với nhau thông qua trọng lượng riêng của chất lỏng. Để xác định độ rết của chất lỏng, cần nhân độ nhớt của chất lỏng với trọng lượng riêng của chất lỏng hoặc đo trực tiếp bằng nhớt kế tuyệt đối. Đối với người kinh doanh chất bôi trơn công nghiệp, thước tâm là biện pháp sẽ chiếm hầu hết sự chú ý của chúng tôi.

Một lưu ý nhỏ, nếu bạn đang sử dụng dầu nhớt tại chỗ, có lẽ nên đo độ nhớt theo đơn vị tuyệt đối. Phép đo bằng centistokes có thể gây hiểu lầm vì trọng lượng riêng của chất bôi trơn thay đổi theo tuổi, nói chung là tăng lên. Có thể thấy mình vượt quá giới hạn nhớt tuyệt đối cho máy nhưng vẫn có thước đo động học cho biết bạn ổn.

Vì vậy, độ nhớt là thước đo khả năng chống chảy của chất lỏng. Nước có độ nhớt thấp là 1 cSt và mật ong có độ nhớt rất cao, giả sử 1.000 cSt. Nếu một chiếc máy được tải nặng thì nhà thiết kế máy sẽ sử dụng chất bôi trơn có khả năng chống lại lực đẩy xung quanh, chất này sẽ nặng như mật ong. Nếu máy chạy rất nhanh thì nhà thiết kế máy sẽ chỉ định một loại chất bôi trơn có thể thoát ra khỏi đường đi và quay trở lại đường đi một cách nhanh chóng. Nói chung, máy móc sẽ có cái này hay cái khác cần quan tâm; đôi khi cả hai cùng một lúc.

Độ nhớt được xác định hoặc chỉ định bằng cách sử dụng một thiết bị phòng thí nghiệm gọi là nhớt kế. Đối với dầu nhớt bôi trơn, nhớt kế có xu hướng hoạt động bằng trọng lực hơn là áp suất. Hãy nghĩ về nhớt kế động học như một ống thủy tinh dài chứa một thể tích dầu. Thước đo độ nhớt của chất lỏng là thước đo khoảng thời gian cần thiết để lượng dầu được chỉ định chảy qua ống trong các điều kiện rất cụ thể.

Bởi vì các điều kiện có thể lặp lại, bây giờ có thể đo khoảng thời gian cần thiết để chất lỏng chảy qua ống và mỗi lần phải gần như nhau. Điều này tương tự như khoảng thời gian cần một thể tích chất lỏng cụ thể ở nhiệt độ cụ thể để thoát qua một cái phễu. Khi chất lỏng trở nên đặc hơn - một chức năng của khả năng chống lại dòng chảy ngày càng tăng của nó - thì thời gian di chuyển qua ống (phễu) dần dần sẽ mất nhiều thời gian hơn. Nước đi qua trong một giây. Cùng một lượng mật ong mất một nghìn giây (theo giả thuyết).

Chúng ta biết rằng nếu chúng ta tăng và giảm nhiệt độ của chất lỏng, thì thường có sự thay đổi tương quan về khả năng chống dòng chảy của chất lỏng. Chất lỏng trở nên đặc hơn ở nhiệt độ thấp hơn và loãng hơn ở nhiệt độ cao hơn.

Với tất cả các biến số và chi tiết này, một số tổ chức đã quyết định đưa ra cách đặc trưng cho dầu bôi trơn để các thành viên của tổ chức tương ứng của họ có một cách thống nhất và đơn giản để giao tiếp, giáo dục và cuối cùng là bảo vệ lợi ích của họ. Xem ngay: Cách tính chỉ số độ nhớt cho dầu nhớt

Mục đích của Hệ thống ISO VG


Mục đích của hệ thống ISO về phân loại cấp độ nhớt là thiết lập một phương pháp đo độ nhớt để các nhà cung cấp chất bôi trơn, nhà thiết kế thiết bị và người sử dụng có cơ sở chung để chỉ định hoặc lựa chọn chất bôi trơn lỏng công nghiệp.

Các cách tiếp cận khác nhau đã được xem xét kỹ lưỡng trước khi Ủy ban kỹ thuật ISO (TC23) quyết định một cách tiếp cận hợp lý và dễ sử dụng. Có một số tiêu chí quan trọng cần ghi nhớ ngay từ đầu, chẳng hạn như:

- Tham khảo chất bôi trơn ở nhiệt độ danh định cho các hệ thống công nghiệp.

- Sử dụng mẫu phù hợp với độ không đảm bảo đo do dung sai sản xuất kích thước đặt ra.

- Sử dụng một mẫu có một số cảm giác lặp lại lên và xuống trên thang đo.

- Sử dụng một mẫu sử dụng một số lượng cấp độ nhớt nhỏ, dễ quản lý.

Nhiệt độ tham chiếu cho việc phân loại phải gần hợp lý với trải nghiệm dịch vụ công nghiệp trung bình. Nó cũng phải liên quan chặt chẽ đến các nhiệt độ đã chọn khác được sử dụng để xác định các đặc tính như chỉ số độ nhớt (VI), có thể hỗ trợ xác định chất bôi trơn.

Một nghiên cứu về nhiệt độ có thể chỉ ra rằng 40ºC (104ºF) là phù hợp cho phân loại chất bôi trơn công nghiệp cũng như các đặc tính định nghĩa chất bôi trơn được đề cập ở trên. Do đó, phân loại độ nhớt ISO này dựa trên độ nhớt động học ở 40ºC (104ºF).

Độ nhớt của dầu ở nhiệt độ 40ºC (104ºF)
Độ nhớt của dầu ở nhiệt độ 40ºC (104ºF)

Để phân loại được sử dụng trực tiếp trong các tính toán thiết kế kỹ thuật trong đó độ nhớt động học của chất bôi trơn chỉ là một trong các thông số, thì chiều rộng cấp độ nhớt (phạm vi dung sai) không được lớn hơn 10% ở hai bên của giá trị danh nghĩa. Điều này sẽ phản ánh thứ tự của độ không đảm bảo đo (điểm trung tâm) trong các tính toán tương tự như độ không đảm bảo đo được áp đặt bởi dung sai chế tạo kích thước.

Hạn chế này, cùng với yêu cầu số lượng cấp độ nhớt không được quá lớn, dẫn đến việc áp dụng hệ thống có khoảng cách giữa các cấp độ nhớt.

Phân loại này xác định 20 cấp độ nhớt trong phạm vi từ 2 đến 3200 milimét vuông trên giây (1 mm2 / s = bằng 1 cSt) ở 40ºC (104ºF). Đối với chất lỏng gốc dầu mỏ, điều này bao gồm khoảng từ dầu hỏa đến dầu xi lanh.

Mỗi cấp độ nhớt được chỉ định bằng số nguyên gần nhất với độ nhớt động học điểm giữa của nó tính bằng mm2 / s ở 40ºC (104ºF) và cho phép phạm vi +/- 10 phần trăm giá trị này. 20 cấp độ nhớt với các giới hạn phù hợp với từng loại được liệt kê trong Bảng 1.

Cấp độ nhớt ISO
Bảng 1.

Việc phân loại dựa trên nguyên tắc rằng độ nhớt động học điểm giữa (danh nghĩa) của mỗi cấp phải lớn hơn khoảng 50% so với độ nhớt trước đó. Việc phân chia mỗi thập kỷ thành sáu bước logarit bằng nhau cung cấp một hệ thống như vậy và cho phép một tiến trình thống nhất từ ​​thập kỷ này sang thập kỷ khác.

Dãy logarit đã được làm tròn vì đơn giản. Mặc dù vậy, độ lệch tối đa cho độ nhớt điểm giữa từ chuỗi logarit là 2,2 phần trăm.

Cấp độ nhớt ISO
Bảng 2.

Bảng 2 tập hợp một số phương pháp đo độ nhớt phổ biến vào một bảng. Nếu người thực hành cảm thấy thoải mái với một số đo cụ thể nhưng muốn xem phạm vi độ nhớt tương quan trong một phép đo khác, tất cả những gì anh ta phải làm là đặt một đường thẳng nằm ngang qua loại độ nhớt đã chọn của mình và xem mối tương quan của nó trong các loại thước đo khác.

Mặc dù đúng là một số cấp độ nhớt sẽ bị loại bỏ khi các công ty tiến tới việc áp dụng chỉ định ISO, nhưng người sử dụng các sản phẩm đó không cần thiết phải rời xa chúng. Hơn nữa, không có ý định đưa ra định nghĩa chất lượng của chất bôi trơn với thang đo này. Việc một sản phẩm có số ISO VG liên quan đến nó không có liên quan đến các đặc tính hoạt động của nó.

Việc chỉ định ISO đã được phát triển từ năm 1975. Bản phát hành gần đây nhất vào năm 1992 (ISO 3448). Điều này bao gồm hầu hết mọi loại ứng dụng mà người sử dụng chất bôi trơn có thể gặp phải. Cộng đồng sản xuất chất bôi trơn đã chấp nhận các cấp độ ISO được khuyến nghị và đã dành nỗ lực và năng lượng đáng kể để phù hợp với cách tiếp cận phân loại mới với các sản phẩm cũ và mới.

Không chắc rằng tất cả chúng ta, những người đã học về việc sử dụng dầu từ những người cố vấn hoặc bạn bè của mình dưới mui xe ô tô sẽ không bao giờ từ bỏ hệ thống phân loại SAE. Chúng ta không cần phải làm vậy. Ít nhất đối với dầu ô tô, chúng ta có thể tiếp tục thấy các giá trị 10- 20- 30- 40- 50 được sử dụng. Tuy nhiên, có khả năng trong thế giới chất bôi trơn công nghiệp sẽ có nhiều sự phụ thuộc vào ISO hơn trong tương lai.

Nguồn: www.machinerylubrication.com

[/tintuc]

JASO DH-1 tiêu chuẩn dầu động cơ Diesel của Nhật Bản
JASO DH-1 tiêu chuẩn dầu động cơ Diesel của Nhật Bản


[tintuc]

Tiêu chuẩn mới cho dầu động cơ diesel 4 thì của JASO, JASO DH-1 (JASO M355 : 2000). Tiêu chuẩn này được giới thiệu ra thị trường vào ngày 1 tháng 4 năm 2001. Nó quy định hiệu suất tối thiểu đối với dầu động cơ phù hợp với động cơ diesel bốn thì do các nhà sản xuất động cơ Nhật Bản sản xuất.

Xem ngay:

- Tiêu chuẩn dầu nhớt JASO bao gồm những gì?

JASO MB tiêu chuẩn dầu nhớt xe ga

- Cách kiểm tra dầu nhớt động cơ có đạt tiêu chuẩn API

SAE International tên mới của Hiệp Hội Kỹ  Sư Ô Tô Hoa Kỳ

Giải thích các ký hiệu của tiêu chuẩn ACEA

JASO DH-1 Tiêu chuẩn này bao gồm bốn bài kiểm tra động cơ và bảy bài kiểm tra băng ghế. Các thử nghiệm động cơ bao gồm:

- Thử nghiệm chất tẩy rửa piston (JASO M336 : 1998)

- Thử nghiệm độ mòn của van tàu (JASO M354 : 1999)

- Thử nghiệm phân tán bồ hóng (ASTM D 5967-99)

- Thử nghiệm chống oxy hóa nhiệt độ cao (ASTM D5533-97a)

- Thử nghiệm tẩy rửa piston và thử nghiệm độ mòn của van được phát triển ở Nhật Bản.

Các thử nghiệm băng ghế đo lường bề mặt nóng, chống hình thành, biến động, chống ăn mòn, ổn định cắt, tổng số cơ sở, và khả năng tương thích phong kín.

Yêu cầu ghi nhãn cho danh mục hiệu suất mới cũng sẽ có hiệu lực đồng thời trên cơ sở toàn cầu. (JASO: Tổ chức tiêu chuẩn ô tô Nhật Bản)

Tương ứng với nhu cầu gần đây về tiêu chuẩn chất lượng dầu động cơ diesel ô tô từ động cơ diesel liên quan đến nhà sản xuất (bao gồm cả người dùng cuối) tại Nhật Bản và các quốc gia khác, JASO DH-1 (JASO M355) đã được thành lập bởi Hiệp hội kỹ sư ô tô Nhật Bản Inc (JSAE) để cung cấp dầu động cơ phù hợp cho động cơ diesel do Nhật Bản sản xuất.

Các tiêu chí hiệu suất được mô tả trong tiêu chuẩn phải được đánh giá theo các quy trình thử nghiệm được quy định bởi JSAE, ASTM và CEC.

Các nhà sản xuất, nhà phân phối và những người khác cung cấp dầu động cơ diesel ô tô (gọi chung là "Nhà cung cấp") sẽ thực hiện các thử nghiệm này và quyết định loại dầu tương ứng dựa trên phán đoán của chính họ và theo trách nhiệm của chính họ (hệ thống tự chứng nhận). Hội đồng có kế hoạch yêu cầu các bên liên quan sử dụng đúng Tiêu chuẩn JASO theo "Hướng dẫn sử dụng hệ thống thực hiện cho dầu động cơ diesel ô tô - JASO DH-1 (JASO M 355)" do Hội đồng ban hành riêng.

Hơn nữa, Hội đồng yêu cầu các Nhà cung cấp sẽ sử dụng Tiêu chuẩn JASO DH-1, hợp tác bằng cách gửi kết quả kiểm tra hiệu suất, tính chất điển hình, mô tả ghi nhãn, v.v. cho Hội đồng khi họ chỉ ra loại hiệu suất trên các vỏ bao bì đóng gói. Hội đồng sẽ lưu giữ những dữ liệu này trong hồ sơ và sẽ sử dụng chúng làm nguyên liệu cơ bản để thúc đẩy việc sử dụng Tiêu chuẩn dầu động cơ JASO. Để tránh nhầm lẫn giữa những người dùng, Hội đồng đã chỉ định một định dạng cho ghi nhãn chỉ định hiệu suất, như thể hiện trong tệp đính kèm, và đã quyết định yêu cầu Nhà cung cấp dán nhãn loại dầu của họ theo định dạng đó.

1. Việc tiếp nhận dữ liệu đã nộp và quản lý hệ thống nộp đơn sẽ được giao cho Hiệp hội Dầu bôi trơn Nhật Bản (JALOS).

2. Việc gửi dữ liệu sẽ được chấp nhận bắt đầu từ ngày 4 tháng 1 năm 2001, sau đó là bắt đầu chính thức hiển thị hiệu suất vào ngày 1 tháng 4 năm 2001.

Chú ý !

Như đã giải thích ở trên, việc quản lý Dầu động cơ Diesel ô tô - Tiêu chuẩn JASO DH-1 (JASO M355) sẽ được thực hiện theo hệ thống tự chứng nhận. Do đó, Hội đồng sẽ không chứng nhận hiệu suất của các loại dầu cũng như không cho phép ghi nhãn.

Hội đồng thực hiện tiêu chuẩn dầu động cơ JASO bao gồm sáu tổ chức:

- Hiệp hội Dầu khí Nhật Bản (PAJ)

- Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản, Inc. (JAMA)

- Hiệp hội kỹ sư ô tô Nhật Bản, Inc. (JSAE)

- Hiệp hội các nhà sản xuất động cơ đất (Lema)

- Hiệp hội dầu bôi trơn Nhật Bản (JALOS)

- Hiệp hội Công nghiệp Thuyền Nhật Bản (JBIA) cũng như các công ty liên quan khác (các nhà sản xuất phụ gia bôi trơn).

[/tintuc]

Các chỉ số cơ bản của dầu nhớt
Các chỉ số cơ bản của dầu nhớt
 [tintuc]

Dầu nhớt là một sản phẩm chuyên sâu về công nghệ và là một hỗn hợp phức hợp của carbohydrate, có hiệu suất sử dụng thực sự là một tác động toàn diện phức tạp của những thay đổi vật lý và hóa học. Các chỉ số cơ bản của dầu nhớt bao gồm các đặc tính vật lý và hóa học nó là gì? Chúng ta hãy cùng xem qua bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn về dầu nhớt.

{tocify} $title = {Mục lục}

Mỗi loại dầu nhớt hoặc mỡ bò bôi trơn đều có chung các đặc tính vật lý và hóa học, điều này nói lên chất lượng vốn có của sản phẩm. Đối với dầu nhớt, các chỉ số cơ bản bao gồm: màu sắc, tỷ trọng, độ nhớt, chỉ số độ nhớt, điểm chớp cháy, điểm đông đặc, trị số kiềm tổng, hàm lượng nước, tạp chất cơ học, hàm lượng tro, cặn cacbon.

Màu sắc của dầu nhớt

Màu sắc của dầu nhớt thường phản ánh mức độ tinh luyện và độ ổn định của nó. Đối với dầu gốc nói chung mức độ tinh chế càng cao thì các oxit hydrocacbon và sulfua của nó sẽ được loại bỏ càng sạch và màu sắc của nó càng nhạt. Tuy nhiên, ngay cả với cùng một điều kiện tinh chế, dầu gốc được sản xuất bởi các nguồn dầu khác nhau và với các loại dầu thô khác nhau về màu sắc và độ trong suốt cũng sẽ khác nhau.

Đối với dầu nhớt thành phẩm, do có thêm phụ gia nên màu sắc đã mất đi ý nghĩa ban đầu trong việc xác định độ tinh luyện của dầu gốc.

Tỷ trọng của dầu nhớt

Tỷ trọng của dầu nhớt là chỉ số đơn giản nhất và phổ biến nhất về các đặc tính vật lý của dầu nhớt. Tỷ trọng của nó tăng lên cùng với sự gia tăng của hàm lượng cacbon, oxy và lưu huỳnh. Do đó, dưới cùng độ nhớt hoặc cùng khối lượng phân tử tương đối, tỷ trọng của dầu có chứa nhiều hydrocacbon và chất keo và độ nhớt cao là có tỷ trọng cao nhất, tỷ trọng của dầu nhớt có nhiều hydrocacbon naphthenic xếp ở giữa, và tỷ trọng của dầu nhớt có nhiều hydrocacbon alkyl là thấp nhất.

Độ nhớt của dầu

Độ nhớt của dầu phản ánh ma sát bên trong của dầu, là một chỉ số về độ nhớt và tính chảy của dầu. Độ nhớt càng cao thì độ bền của màng dầu càng cao và độ chảy của nó càng kém. Ví dụ: Dầu nhớt 10W30 sẽ loãng hơn 10W40 các bạn có thể tham khảo thêm về sự khác nhau giữa nhớt 10W30 và 10W40.

Chỉ số độ nhớt

Chỉ số độ nhớt cho biết mức độ thay đổi độ nhớt của dầu theo nhiệt độ khi hoạt động và khi dừng máy. Chỉ số độ nhớt càng cao thì ảnh hưởng của nhiệt độ đến độ nhớt của dầu càng giảm, đặc tính độ nhớt - nhiệt độ của nó càng tốt. Nếu không, nó sẽ kém hơn. Để xem nhãn hiệu dầu nhớt các bạn sử dụng có chỉ số độ nhớt bao nhiêu các bạn có thể tính chỉ số độ nhớt bằng cách nhấp vào liên kết.

Điểm chớp cháy của dầu nhớt

Điểm chớp cháy của dầu nhớt là một chỉ số về khả năng bay hơi của dầu. Dầu nhớt càng nhẹ thì khả năng bay hơi của dầu càng cao và điểm chớp cháy của dầu càng thấp. Nếu không, ngược lại dầu nhớt càng nặng thì khả năng bay hơi càng thấp và điểm nhấp nháy của dầu càng cao. Trong khi đó, điểm chớp cháy chỉ ra nguy cơ cháy nổ của các sản phẩm dầu mỏ. Mức độ nguy hiểm của dầu nhớt được đánh giá dựa trên điểm chớp cháy của nó. Trong quá trình bảo quản và vận chuyển dầu nhớt, nghiêm cấm việc đốt nóng dầu đến điểm chớp cháy. Dưới cùng một độ nhớt, điểm chớp của nó càng cao thì càng tốt. Do đó, khi lựa chọn dầu nhớt người sử dụng nên xem xét nhiệt độ sử dụng và điều kiện làm việc của dầu nhớt. Nói chung, chất dầu nhớt có thể được sử dụng an toàn khi điểm chớp cháy của nó cao hơn nhiệt độ sử dụng từ. Các bạn có thể xem thêm nhiệt độ chớp cháy của dầu nhớt là bao nhiêu khi nhấp vào liên kết.

Điểm đông đặc của dầu nhớt

Điểm đông đặc của dầu nhớt là nhiệt độ cao nhất khi dầu ngừng chảy trong các điều kiện làm mát quy định. Sự đông đặc của dầu khác với sự ngưng tụ của các hợp chất tinh khiết. Dầu nhớt không có nhiệt độ ngưng tụ cố định. Cái gọi là "đông đặc" có nghĩa là toàn bộ đầu mất đi khả năng chảy, nhưng không phải tất cả các thành phần đã chuyển sang thể rắn.

Điểm đông đặc của dầu nhờn là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng cho biết khả năng chảy của dầu ở nhiệt độ thấp, có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình sản xuất, vận chuyển và sử dụng dầu nhớt. Dầu nhớt có điểm đông đặc cao không thể sử dụng ở nhiệt độ thấp. Và không nhất thiết phải sử dụng dầu nhớt có điểm ngưng tụ thấp ở vùng có nhiệt độ tương đối cao, vì giá thành sản xuất sẽ tăng cao nếu điểm đông đặc của dầu nhớt thấp hơn sẽ gây lãng phí. Nói chung, điểm đông đặc của dầu phải thấp hơn 5 ~ 7 so với nhiệt độ thấp nhất của nhiệt độ sử dụng. Tuy nhiên, điều cần đề cập là, khi lựa chọn chất bôi trơn nhiệt độ thấp, người dùng nên xem xét toàn diện điểm đông đặc, độ nhớt nhiệt độ thấp và đặc tính nhiệt độ của độ nhớt.

Điểm đông đặc là chỉ số đánh giá độ chảy của dầu ở nhiệt độ thấp, về cơ bản không có sự khác biệt, nhưng khác nhau về phương pháp thử nghiệm. Điểm ngưng tụ và điểm rót của cùng một loại dầu không hoàn toàn bằng nhau.

Trị số kiềm tổng

Trị số kiềm tổng dùng để đo độ kiềm của dầu, biểu thị khả năng chống lại sự ăn mòn hoá học của nhiên liệu diesel có hàm lượng lưu huỳnh cao. Trị số này được thể hiện bằng số miligram Hydroxit Kali (mgKOH) tương đương với nó.

Trị số kiềm tổng trên thực tế bao gồm (TAN) và (TBN). Tuy nhiên, trừ khi có chỉ định khác, trị số kiềm tổng thường được đề cập trên thực tế chỉ đề cập đến "TAN", đơn vị của nó cũng là mgKOH/g.

- Tổng số axit (TAN): là chỉ số axit cho biết hàm lượng của chất axit trong dầu nhờn, với đơn vị là mgKOH/g. Chỉ số axit bao gồm số axit mạnh và axit yếu, sự kết hợp của hai được gọi là tổng số axit (TAN). "Số axit" thường được chúng tôi đề cập trên thực tế là "tổng số axit (TAN)".

- Tổng số bazơ (TBN): Là chỉ số bazơ cho biết hàm lượng của chất bazơ trong dầu nhớt, với đơn vị là mgKOH/g. Chỉ số bazơ cũng được chia thành số bazơ mạnh và bazơ yếu, sự kết hợp của cả hai được gọi là tổng số bazơ (viết tắt là TBN). "Số bazơ" thường được chúng tôi đề cập trong thực tế là "tổng số bazơ (TBN)".

Hàm lượng nước có trong dầu nhớt

Hàm lượng nước có trong dầu nhớt là đề cập đến phần trăm nước có trong dầu, thường là phần trăm tổng trọng lượng. Sự tồn tại của nước trong dầu nhớt sẽ phá vỡ màng dầu hình thành trong dầu nhớt, điều này sẽ làm giảm hiệu quả bôi trơn, đẩy nhanh quá trình ăn mòn axit hữu cơ đối với kim loại, rỉ sét thiết bị và làm cho dầu sinh ra cặn. Nói chung, hàm lượng nước chứa trong dầu nhớt càng ít thì càng tốt.

Tạp chất cơ học có trong dầu

Tạp chất cơ học có trong dầu là cặn hoặc huyền phù dạng keo tồn tại trong dầu nhớt và không hòa tan trong các dung môi như khí, rượu etylic và benzen. Trong số các tạp chất này, phần lớn là cát và sắt vụn và một số muối kim loại hữu cơ không tan trong nước sinh ra từ các chất phụ gia. Thông thường, hàm lượng tạp chất cơ học trong dầu gốc của dầu nhờn được kiểm soát dưới 0,005% (sẽ được coi là không có tạp chất cơ học khi hàm lượng dưới 0,005%).

Hàm lượng tro

Hàm lượng tro dùng để chỉ các chất không cháy được còn lại sau khi dầu nhớt được đốt cháy trong các điều kiện quy định. Thành phần của tro thường được cho là một số nguyên tố kim loại và muối của chúng. Tro là một khái niệm khác cho các chất bôi trơn khác nhau. Đối với dầu gốc hoặc dầu không có phụ gia, tro có thể được sử dụng để xác định độ sâu tinh luyện của dầu nhớt. Đối với chất bôi trơn được bổ sung phụ gia muối kim loại (chất bôi trơn mới), tro là một cách tiếp cận để kiểm soát định lượng lượng phụ gia.Ở nước ngoài người ta áp dụng tro sunfat hóa thay vì tro xỉ. Phương pháp của nó là: thêm một ít axit sunfuric đậm đặc trước khi mẫu dầu nhớt được đốt thành tro, chất này sẽ chuyển các nguyên tố kim loại của phụ gia thành sunfat.

Cặn cacbon

Trong các điều kiện thí nghiệm quy định, cặn đen cháy của dầu nhớt sau khi đun nóng, bay hơi và đốt cháy được gọi là cặn cacbon. Cặn cacbon là một chỉ số chất lượng quan trọng của dầu gốc của chất bôi trơn và là một mục được sử dụng để xác định bản chất và độ sâu tinh chế của dầu nhớt. Lượng cặn cacbon trong dầu gốc của chất bôi trơn không chỉ liên quan đến thành phần hóa học của nó mà còn liên quan đến độ sâu tinh chế của nó. Cặn cacbon chủ yếu đến từ các chất như keo, chất sân và PAH trong dầu. Các chất này sẽ tạo ra cặn cacbon sau khi bị phân hủy và ngưng tụ ở nhiệt độ mạnh khi không khí không đủ. Độ sâu tinh chế của dầu nhớt càng cao, giá trị cặn cacbon của nó sẽ càng nhỏ.

Hiện nay, nhiều loại dầu nhớt có chứa các chất phụ gia có chứa các nguyên tố như kim loại, lưu huỳnh, phốt pho và nitơ. Giá trị dư lượng cacbon của chúng rất cao. Do đó, phép đo cặn cacbon đã mất đi ý nghĩa ban đầu đối với dầu nhớt có phụ gia. Tạp chất cơ học, độ ẩm, tro và cặn cacbon đều là những chỉ tiêu chất lượng phản ánh độ tinh khiết của dầu nhờn và mức độ tinh luyện của dầu gốc.

Thông qua bài viết “Các chỉ số cơ bản của dầu nhớt”, chúng tôi mong rằng có thể giúp các bạn đánh giá được loại dầu nhớt mà bạn đang sử dụng có chất lượng như thế nào. Thông qua các chỉ số dầu nhớt được nêu ở trên.

Nguồn: www.cleanoil.com.cn

[/tintuc]

Nhiệt độ chớp cháy của dầu nhờn là bao nhiêu?
Nhiệt độ chớp cháy của dầu nhờn là bao nhiêu?
[tintuc]

Nhiệt độ chớp cháy hay điểm chớp cháy của dầu nhờn là nhiệt độ thấp nhất mà tại đó mẫu dầu tạo ra đủ hơi trong các điều kiện nhất định tạo thành hỗn hợp hơi và không khí phía trên mẫu dầu đó có thể bốc cháy. Nếu hỗn hợp cháy trong ít nhất năm giây hoặc lâu hơn, thì đây được gọi là tâm điểm của dầu. Tiêu điểm thường chỉ cao hơn điểm chớp cháy vài độ C.

{tocify} $title = {Mục lục}

Chỉ riêng nhiệt độ chớp cháy không phải là một tính năng đầy đủ chất lượng của dầu nhờn, cũng như không cho phép kết luận về tính phù hợp của dầu. Nó cũng không đưa ra bất kỳ kết luận nào về việc tiêu thụ dầu trong động cơ đốt trong.

Nhiệt độ chớp cháy của dầu nhờn được xác định như thế nào?

Vì nhiệt chớp cháy là một hằng số quan trọng đối với các loại dầu nhờn, nên mỗi loại dầu đều được thử nghiệm liên quan đến điểm chớp cháy của từng loại. Điểm chớp cháy đóng góp đáng kể vào phạm vi ứng dụng của dầu nhờn. Tất nhiên, không có loại dầu nào có điểm chớp cháy 150°C có thể được sử dụng trong hệ thống có nhiệt độ cao nhất là 150°C. Nguy cơ cháy nổ sẽ rất cao.

Dầu nhớt có điểm chớp cháy trên 79°C được xác định theo tiêu chuẩn ISO 2592 (ASTM D92) cốc hở Cleveland. Dầu nhờn có nhiệt độ chớp cháy thấp hơn được xác định theo phương pháp cốc kín Abel-Pensky (DIN 51755) hoặc Pensky-Martens (DIN 51758). Các quy trình thử nghiệm được tiêu chuẩn hóa đảm bảo các yêu cầu cơ bản không đổi và điều kiện môi trường xung quanh. Do đó, các nhiệt độ chớp cháy của các loại dầu nhờn khác nhau có thể so sánh tốt.

Khi nào thì điểm chớp cháy của dầu nhờn là đạt?

Mỗi loại dầu nhờn điều có nhiệt độ chớp cháy khác nhau. Tùy thuộc vào ứng dụng, một điểm chớp cháy nhất định cũng có thể được yêu cầu. Về cơ bản, có thể nói rằng điểm chớp cháy của dầu gốc parafin có khối lượng riêng từ 860 kg*m-3  đến 890 kg*m-3 là từ 200°C đến 280 ° C. Đối với dầu gốc naphthene có khối lượng riêng từ 890 kg*m-3  đến 960 kg*m-3 đạt được điểm chớp cháy từ 235°C trở xuống.

- Trong trường hợp dầu động cơ cho ô tô, thường đạt được điểm chớp cháy từ 200°C đến 270°C.

- Một số loại dầu nhờn đặc biệt cho các ứng dụng công nghiệp có thể đạt điểm chớp cháy trên 300°C.

Nguyên nhân nhiệt độ chớp cháy của dầu nhờn đôi khi giảm trong quá trình sử dụng?

Đặc biệt ở động cơ đốt trong, dầu nhờn động cơ có thể trộn lẫn với nhiên liệu sau thời gian dài sử dụng, dẫn đến loãng dầu. Sự xâm nhập của các chất lạ, nhiên liệu hoặc nước cũng là lý do tại sao nhiệt độ chớp cháy của các loại dầu nhớt khác có thể giảm xuống. Nếu điểm chớp cháy của mẫu dầu giảm xuống dưới 150°C, nên thay dầu để giảm nguy cơ cháy.

So sánh điểm chớp cháy giữa mỡ bôi trơn và dầu nhờn

Ngược lại với dầu nhờn, việc xác định điểm chớp cháy không quá quan trọng đối với mỡ bôi trơn. Trong trường hợp mỡ bôi trơn, điểm rơi là một trong những đặc tính quan trọng nhất. Điểm rơi là nhiệt độ mà dầu mỡ bắt đầu bị rò rỉ. Điều này có nghĩa là chất làm đặc không còn có thể kết dính dầu và chất béo sẽ hóa lỏng. Khi đã đạt đến điểm rơi của mỡ bôi trơn, mỡ không còn có thể duy trì màng bôi trơn như mong muốn. Mỡ bôi trơn ở nhiệt độ cao có thể đạt đến điểm rơi xấp xỉ 300°C.

Nhiệt độ chớp cháy của dầu động cơ 2 thì là bao nhiêu?

Vì nhiều loại dầu động cơ 2 thì bị đốt cháy do hỗn hợp bôi trơn trong khoang động cơ kết hợp với nhiên liệu, nên nhiệt độ chớp cháy của dầu 2 thì thường thấp hơn điểm chớp cháy của dầu động cơ thông thường. Điểm chớp cháy của một số loại dầu 2 thì xấp xỉ 130°C.

Tuy nhiên, cũng có những loại dầu 2 thì không có thành phần trộn trước có điểm chớp cháy cao hơn. Đặc biệt đối với xe mô tô đua, nhiệt độ chớp cháy của dầu nhờn là một tính năng quan trọng, vì dầu cháy chậm hơn và các chất phụ gia bảo vệ động cơ lâu hơn.

Nguồn: www.addinol.de

[/tintuc]

ILSAC-Ủy ban tiêu chuẩn hóa và phê duyệt dầu nhờn Quốc tế
ILSAC-Ủy ban tiêu chuẩn hóa và phê duyệt dầu nhờn Quốc tế.
[tintuc]

ILSAC “Ủy ban tiêu chuẩn hóa và phê duyệt dầu nhớt Quốc tế” được thành lập vào năm 1992 là một tổ chức bao gồm Ford, General Motor, Chrysler, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản (JAMA) và Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Mỹ (AAMA).

{tocify} $title = {Mục lục}

Tiêu chuẩn ILSAC sử dụng hệ thống cấp phép và chứng nhận dầu nhớt động cơ (EOLCS) của API. Đây là chương trình cấp phép và chứng nhận tự nguyện cho các nhà sản xuất dầu động cơ đáp ứng yêu cầu cựu thể sử dụng phẩm cấp chất lượng dầu động cơ API. Tiêu chuẩn ILSAC được ký hiệu bằng “ILSAC GF-…” dựa trên các loại dịch vụ của API đưa ra các yêu cầu về hiệu suất. Thường được in trên các bao bì sản phẩm dầu động cơ.

ILSAC GF-1

ILSAC GF-1: được tạo ra vào năm 1990 và năng cấp vào năm 1992. Đáp ứng yêu cầu AP-SH và bảo tồn năng lượng (EC II) yêu cầu tối thiểu đối với dầu động cơ được sử dụng trong ô tô của Mỹ và Nhật Bản.

ILSAC GF-2

ILSAC GF-2: được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1996 để thay thế cho ILSAC GF-1 sử dụng cho động cơ xăng trên ô tô chở khách, dầu đáp ứng yêu cầu dịch vụ API-SJ và EC II. Được API ngừng cấp phép từ tháng 3 năm 2002, lý do là nó đã trở nên lỗi thời, dầu động cơ đáp ứng đặc điểm kỹ thuật ILSAC GF-2 thường có độ nhớt HTHS thấp (≤ 3,5cP) như SAE 10W-30, 5W30,... dựa trên dầu gốc nhóm 2, nhóm 3 hoặc nhóm 4.

ILSAC GF-3

ILSAC GF-3: loại dầu đáp ứng yêu cầu API-SL và EC II được giới thiệu vào năm 2001 để sử dụng cho động cơ xăng trên ô tô chở khách. API đã ngừng cấp phép dầu động cơ ILSAC GF-3 và nó đã trở thành một thông số kỹ thuật lỗi thời vào tháng 4 năm 2004. Dầu nhớt động cơ đáp ứng ILSAC GF-3 thường có độ nhớt HTHS thấp (≤ 3,5cP) SAE 10W-30, 5W-30, 0W-30, 5W-20 hoặc 0W-20 dựa trên dầu gốc API Nhóm 2, Nhóm 3 hoặc Nhóm 4.

ILSAC GF-4

ILSAC GF-4: được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 2004 để sử dụng cho động cơ xăng trên ô tô chở khách. API đã ngừng cấp phép dầu động cơ ILSAC GF-4 và nó đã trở thành một thông số kỹ thuật lỗi thời vào tháng 9 năm 2011. Đáp ứng yêu cầu API-SM nhưng nó yêu cầu một thử nghiệm tiết kiệm nhiên liệu VIB bổ sung (ASTM D6837). Dầu động cơ đáp ứng ILSAC GF-4 thường có độ nhớt HTHS thấp (≤ 3,5cP).

ILSAC GF-5

ILSAC GF-5: được giới thiệu lần đầu tiên vào tháng 10 năm 2010 như là tiêu chuẩn hiệu suất tối thiểu để sử dụng cho động cơ chạy bằng nhiên liệu xăng trên ô tô. Dầu nhớt động cơ ILSAC GF-5 được pha chế để cải thiện hiệu quả sử dụng nhiên liệu và cải thiện hiệu suất trên nhiều lĩnh vực bao gồm bảo vệ cặn ở nhiệt độ cao cho pít-tông, cải thiện khả năng bảo vệ chống lại sự hình thành cặn động cơ và bảo vệ động cơ hoạt động trên nhiên liệu chứa etanol.Dầu đáp ứng tiêu chuẩn ILSAC GF-5 có hiệu suất vượt trội hơn so với dầu đáp ứng ILSAC GF-4 trở về trước và có thể bôi trơn hiệu quả cho các động cơ đáp ứng các tiêu chuẩn đó. Dầu đáp ứng ILSAC GF-5 thường có HTHS thấp (≤ 3,5cP) SAE 10W-30, 5W-30, 0W-30, 5W-20, 0W-20 và 0W-16 dựa trên API Nhóm 2, Nhóm 3 hoặc Nhóm 4 dầu gốc và kết hợp với API-SN PLUS, API-SN và yêu cầu bảo tồn năng lượng.

ILSAC GF-6

Để đáp ứng các tiêu chuẩn khí thải và tiết kiệm nhiên liệu đang thay đổi, phần lớn động cơ hiện đại đã phát triển và yêu cầu chất bôi trơn có hiệu suất cao hơn. Việc giảm kích thước động cơ, tăng áp, phun xăng trực tiếp (GDI hoặc TGDI), điều chỉnh van biến thiên, và giới thiệu công nghệ dừng/khởi động, hybrid và điện có nghĩa là các bài kiểm tra GF-5 đơn giản không đo lường được  nhu cầu đặt ra đối với các loại dầu nhớt động cơ hiện đại.

Việc cấp phép gần đây của ngành công nghiệp ô tô đối với danh mục chất bôi trơn bổ sung API-SN PLUS để giảm thiểu hiện tượng đánh lửa trước ở tốc độ thấp (LSPI) được quan sát thấy trên các phương tiện được trang bị động cơ GDI là một bước khởi đầu, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề đòi hỏi một giải pháp bôi trơn tốt hơn. ILSAC GF-6 mới sẽ cân bằng những nhu cầu quan trọng không kém này:

- Tiết kiệm nhiên liệu và tiết kiệm nhiên liệu

- Khả năng tương thích hệ thống khí thải

- Độ bền của dầu động cơ để bảo vệ động cơ khỏi mài mòn liên quan đến dừng không tải và các hỏng hóc liên quan đến LSPI và lắng đọng bộ tăng áp

Tiêu chuẩn hiệu suất này sẽ bao gồm hai thông số kỹ thuật riêng biệt:  ILSAC GF-6A để đại diện cho các cấp độ nhớt ILSAC hiện có và GF-6B sẽ chỉ được xác định cho các loại dầu động cơ có cấp độ nhớt 0W-16.

ILSAC GF-6A

* ILSAC GF-6A: Được giới thiệu vào tháng 5 năm 2020, được thiết kế để cung cấp khả năng bảo vệ chống đánh lửa trước ở tốc độ thấp (LSPI), chống mài mòn xích thời gian, cải thiện khả năng bảo vệ lắng đọng ở nhiệt độ cao cho các piston và bộ tăng áp, kiểm soát bùn và dầu bôi trơn nghiêm ngặt hơn, cải thiện tiết kiệm nhiên liệu, hệ thống kiểm soát khí thải nâng cao và bảo vệ động cơ hoạt động bằng nhiên liệu có chứa ethanol đến E85. 

ILSAC GF-6B

* ILSAC GF-6B: Chỉ áp dụng cho các loại dầu có cấp độ nhớt SAE là 0W-16. Được giới thiệu vào tháng 5 năm 2020, được thiết kế để cung cấp khả năng bảo vệ chống đánh lửa trước ở tốc độ thấp (LSPI), chống mài mòn xích thời gian, bảo vệ đóng cặn ở nhiệt độ cao cho piston và bộ tăng áp, kiểm soát cặn bẩn và dầu bôi trơn nghiêm ngặt, cải thiện tiết kiệm nhiên liệu, bảo vệ và bảo vệ hệ thống kiểm soát khí thải của động cơ hoạt động bằng nhiên liệu có chứa etanol đến E85.

Nguồn: 360.lubrizol.com

[/tintuc]

JASO MB tiêu chuẩn dầu nhớt xe ga
JASO MB tiêu chuẩn dầu nhớt xe ga
 [tintuc]

Dầu nhớt xe ga có ký hiệu JASO là MB, trong chúng ta chắc ít ai để ý đến việc đó khi thay dầu. Nhiều người thậm chí bỏ mặt xe cho thợ thay dầu gì thì thay, nhưng chúng ta cần phải biết dầu xe ga và xe số là khác nhau hoàn toàn nếu như thay nhầm là điều vô cùng tay hại.

{tocify} $title = {Mục lục}

Tiêu chuẩn JASO là gì?

JASO là tên viết tắt của Tổ chức tiêu chuẩn ô tô Nhật Bản (Japanese Automotive Standards Organization) là một tổ chức đặt ra các tiêu chuẩn ô tô tại Nhật Bản tương tự như “Hiệp hội kỹ sư ô tô tại Hoa Kỳ”.

Từ nằm 1994, JASO đã đề xuất các yêu cầu mới cho dầu nhớt nhằm đáp ứng khả năng bôi trơn phù hợp cho các động cơ hiện đại.

Phân loại JASO MA và MB cho dầu xe máy 4 thì

Các xe máy hiện đại ngày nay thường có cùng một loại dầu bôi trơn động cơ và ly hợp ướt khác với dầu nhớt ô tô mỗi bộ phận có chất bôi trơn khác nhau. Với mục đích này, hầu hết các trường hợp dầu động cơ biến đổi ma sát thường không đủ tốt. Để đảm bảo rằng loại dầu nhớt nào phù hợp được sử dụng, các nhà sản xuất xe máy thường yêu cầu dầu bôi trơn phải đáp ứng một trong các tiêu chuẩn JASO đưa ra dưới đây.

Dầu động cơ xe máy phải đáp ứng tiêu chuẩn JASO T 903: 2006 nó được phân thành bốn cấp: JASO MA, JASO MA1, JASO MA2 và JASO MB . Việc phân loại dựa trên kết quả của bài kiểm tra độ bám của hệ thống ly hợp JASO T 904: 2006.

JASO MA và MA2 được sử dụng cho động cơ có bộ ly hợp như xe số. Còn JASO MB thường được sử dụng cho xe tay ga và ô tô có ly hợp khô. 

Để đáp ứng bất kỳ tiêu chuẩn JASO nào đã đề cập ở trên, dầu động cơ phải có ít nhất một trong các cấp chất lượng sau:

- Tiêu chuẩn API: SG, SH, SJ, SL, SM

- Tiêu chuẩn ILSAC: GF-1, GF-2, GF-3

- Tiêu chuẩn ACEA: A1 / B1, A3 / B3, A3 / B4, A5 / B5, C2, C3

Hơn nữa, chỉ số đặc tính ma sát động (DFI), chỉ số đặc tính ma sát tĩnh (SFI) và chỉ số thời gian dừng (STI) của dầu động cơ phải nằm trong các giới hạn sau theo thử nghiệm ma sát JASO 904: 2006:

- Chỉ số đặc tính ma sát động (Dynamic Friction Characteristic Index – DFI)

- Chỉ số đặc tính ma sát tĩnh (Static Friction Characteristic Index – SFI)

- Chỉ số thời gian dừng (Stop Time Index – STI)

Chỉ số đặc tính MA và MB
Chỉ số đặc tính MA và MB

Phạm vi JASO MA được chia thành 2 phạm vi riêng biệt JASO MA1 và JASO MA2 như sau:

Chỉ số đặc tính MA1 và MA2
Chỉ số đặc tính MA1 và MA2

Nếu cả ba đặc tính của dầu JASO MA nằm trong giới hạn được chỉ định là MA1 thì dầu đó có thể được phân loại là dầu JASO MA1. Nếu tất cả các đặc tính của nó nằm trong giới hạn của MA2 thì nó có thể được phân loại là dầu JASO MA2. Nếu một số thuộc tính nằm trong danh mục con MA1 nhưng những thuộc tính khác nằm trong MA2 thì sản phẩm đó chỉ đơn giản là sản phẩm JASO MA.

JASO MB được phân loại là loại dầu ma sát thấp nhất trong số các loại dầu bốn chu kỳ dành cho xe máy thích hợp cho xe ga có bộ ly hợp không nhúng dầu. Không được sử dụng cho xe máy yêu cầu dầu cấp JASO MA “dầu cho xe số có bộ ly hợp nhúng dầu”.

Nếu chúng ta sử dụng dầu nhớt xe ga cho xe số sẽ gây ra hiện tượng trượt ly hợp, còn ngược lại lấy dầu xe số sử dụng cho xe ga dẫn đến hiện tượng bị nóng máy, ì máy do dầu không đáp ứng khả năng bôi trơn.

Các bạn có thể tìm hiểu thêm về Tiêu chuẩn JASO cho xe máy 4 thì tại đây.

Thương hiệu dầu nhớt đạt tiêu chuẩn JASO

Ngoài ra bạn có thể tham khảo thêm dầu xe máy đạt tiêu chuẩn MA và dầu xe ga đạt tiêu chuẩn MB tại Dầu Nhớt Hồng Thái.

[/tintuc]

Dầu Nhớt Hồng Thái
0963 746 743
Hỗ trợ mua hàng